Lá
Số Tử Vi của Vua Lê Thái Tổ
Bài
của GS Phạm Kế Viêm
Vua Lê Lợi sinh rạng ngày 10-9-1385
(tức là giờ Tý ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu) dưới thời Trần Phế Đế Hiển tại
Quê Mẹ ở làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương, lộ Thanh Hóa (nay la øhuyện Thọ Xuân tỉnh
Thanh Hóa). Sau 10 năm đánh đuổi giặc Minh lên ngôi tại Thăng Long ngày 14
tháng 4 năm Mậu Thân (27- 4- 1428), băng hà ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quý
Sửu (tháng 9 /1433) thọ 49 tuổi. Táng ở Vĩnh Lăng làng Lam Sơn.
Mệnh Thân đồng cung tại Dậu (kim) vô
chính diệu có Bạch Hổ (kim) tọa thủ (Bạch Hổ khiếu Tây Sơn, sinh ban đêm: hiển
đạt), Cung Quan Lộc có Thái Dương Thái Âm đồng cung hội Thái Tuế, Thanh Long +
Hóa Kị (rồng mây gặp hội), Cung Tài Bạch: Thiên Lương + Hóa Quyền, Quan Phù, Phục
Binh. Cung Thiên Di có Cự Cơ tại Mão hội Song Lộc. Cung Tật Ách nhị hợp với Mệnh
có Tử Tướng hội Hóa Khoa Xương Khúc. Đó là Lá Số đặc biệt Vô chính Diệu + Nhật
Nguyệt chiếu hư không + Tứ Linh hội Trung tinh đắc cách (Song Lộc, Tam Hóa Liên
Châu tại Tài, Ách, Di; Thanh Long ngộ Hóa Kị tại Quan). Theo Lam Sơn thực lục
thì Lê Lợi mặt vuông, mắt sáng, mũi cao, miệng rộng, vai trái có 7 nốt ruồi,
tóc và lông đầy người, rất mạnh mẽ đi như Rồng, bước như Hổ, tiếng nói vang như
chuông. Mệnh Thân đồng cung tính tự lập, cuộc đời trước sau như một, ít bị ảnh
hưởng của ngoại vật, ở vị trí Tam Hợp (Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ) là người đã tự
cho mình có một Sứ mạng vì Nước vì Dân, lại được Bạch Hổ độc thủ tại Mệnh Thân
là phải gắng công gắng sức với Sứ mạng đó với bất cứ giá nào (10 năm gian khổ
trường kỳ chiến đấu không mệt mỏi, kiên nhẫn chống Ngoại xâm).
Với hình tướng: mắt sáng, mũi cao,
miệng rộng, tiếng nói như chuông (thanh tướng rất tốt) tức là Tam Đình cân xứng
Ngũ Quan đầy đặn đó là Tướng Quý hiển nhưng có phá tướng: mặt vuông tức là hạđình
ngắn, địa các hẹp (chủ về Nô Bộc), lông đầy người + Phục Binh chiếu mệnh: tính
đa nghi với bạn bè, kẻ dưới. Bản chất thực của Vua Lê Lợi nằm ở Cung Ách (vì Mệnh
Vô chính Diệu) có Tử Tướng + Khoa, Kình Hình ở vị trí Thiếu Âm bề ngoài
là tỏ ra Chính nhân Quân Tử nhưng đôi khi hành động theo Phá Quân ở Phụ Mẫu chiếu
qua. Cung Nô (có Tham Lang tại Dần + Tam Minh đãn hiềm Đà hội Lực Sĩ + Kiếp
Sát, Cô Thần) nên sau khi lên ngôi đã có nhiều nghi kị, giết hại Công Thần (kể
cả nghi án giết Trần Cảo tức Vua Trần Thiên Khánh khoảng tháng 2/1428 được Vua
Minh phong làm An Nam Quốc Vương, vì Cảo chết Vua Minh mới sắc phong cho Lê Lợi
để lên ngôi).
Trần Nguyên Hãn (cháu nội của Trần
Nguyên Đán, một Tôn Thất của dòng nhà Trần kết thân gia với Hồ Quý Ly có con gái
gả cho Nguyễn Phi Khanh là bố của Nguyễn Trãi) vào khoảng giai đoạn
1416-1418 cùng với anh họ là Nguyễn Trãi vào thăm Lê Lợi ở Lam Sơn. Hãn
thấy Lê Lợi «tiếng nói thô lỗ, miệng nhai nhồm nhoàm, không có khí tượng Thiên
Tử, bèn nói với Trãi rằng Ông ấy có tướng như tướng của Việt Vương Câu Tiễn, chỉ
có thể giúp trong lúc hoạn nạn mà không thể ở cùng với nhau lúc sung sướng », rồi
2 người bỏ ra về. Hai năm sau, khi thấy tiếng tăm của Lê Lợi đã vang dội, hai
người mới trở lại vùng thượng lưu sông Lỗi Giang (sông Mã), nơi Lê Lợi đang ẩn
náu, lúc đó thấy tướng Lê Lợi có vượng khí, khác hẳn lần trước, nên rủ
nhau ở lại để hợp tác. Sau khi bình định xong giặc Minh, Vua Lê Lợi lên ngôi
năm Mậu Thân 1428, Hãn bắt chước Trương Lương nhà Tây Hán (tránh gương
Hàn Tín), xin về hưu ngay. Ít lâu sau, Vua nghe lời dèm pha, nghi Hãn có bụng
làm phản nên gọi về Kinh hỏi tội, trên đường về Kinh thì thuyền « bị đắm » và
Hãn bị « chết đuối », nhưng vẫn bị tịch thu gia sản, Trãi là anh họ cũng bị bắt
giam, sau được thả nhưng bị giáng chức. Đến đời Vua Lê Thái Tông
(1433-1442) vì án Vườn Lệ Chi (ái thiếp của Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp,
văn chương hay được gọi vào Cung làm Lễ Nghi Học Sĩ trong khi cùng Vua đi tuần
về miền Đông ở vườn Lệ Chi sau một đêm hầu bên cạnh, Vua chết. Triều đình khép
vào tội giết vua nên Trãi cùng Thị Lộ bị chu di tam tộc. Nguyễn Trãi là Đại
Công Thần của nhà Lê coi như Quân Sư của Lê Lợi trong thời gian Kháng Minh, nổi
danh với bài Bình Ngô Đại Cáo sinh năm Canh Thân 1380 bị chu di tam tộc chết năm
Nhâm Tuất 1442, 63 tuổi còn vài tháng gặp năm Xung + La Hầu + Thiên Không +
Kình Đà, có người con tên Duẩn trốn thoát, sau là Ông Tổ 5 đời của Nguyễn
Kim sinh ra Nguyễn Hoàng gọi là Chúa Tiên, người sáng lập Triều Đại
Nguyễn).
Trần Nguyên Hãn và Phạm văn Xảo là 2
đại công thần bị chết oan vì sự dèm pha.
Dòng giõi Vua Lê Lợi :
Cung Phúc Đức có Thiên Đồng + Tướng Ấn,
Mã Khốc Khách, Tả Hữu ngộ Tuần + Không Kiếp đắc địa tại Hợi. Cung Phụ Mẫu có
Phá Quân cư Tuất, Xương Khúc, Đào Hồng ngộ Tuần. Cụ Nội của Lê Lợi là Lê Hối
trước ở thôn Như Áng huyện Lương Giang (nay là huyện Ngọc Lạc tỉnh Thanh Hoá)
làm thầy Đồ dạy học (Đồng + Tuần). Khi đi qua vùng Lam Sơn (vùng đồng bằng sông
Chu nối liền với sông Mã bằng 1 con sông nhỏ, cạnh núi Dầu (cao 62 m), núi này
có nhiều cây Chàm màu Lam nên gọi là núi Chàm hay núi Lam tức là Lam Sơn)
thấy nhiều chim bay lượn hàng đàn bên chân núi, vùng đất cao ráo, trước mặt là
sông Chu (Minh Đường tụ thủy), sau lưng là Núi Lam (Huyền Vũ vững chắc) về mặt
Phong Thủy coi như giải đất Vượng con cháu đời đời hưởng lộc, bèn bỏ Như Áng dời
nhà về Lam Sơn. Vì vùng đất rất phì nhiêu nên ngay trong đời Lê Hối và con là
Lê Đinh thì sản nghiệp càng nhiều, con cháu mỗi ngày một đông, gần xa nghe tiếng
tụ về có đến hàng ngàn, họ Lê coi như đã làm chúa một vùng! Đến đời Lê
Khoáng là thân phụ của Lê Lợi, người hiền lành phúc đức cũng là địa chủ của
vùng Lam Sơn, dân vùng lân cận đều được nhờ vả. Trước khi khởi nghĩa Lê Lợi
cũng là một Tù Trưởng hào phóng, giầu nhất vùng (vùng đó có nhiều người Mường
mà nay thường gọi là Hmông).
Cung Thê Thiếp và Cung Tử Tức
Cung
Thê vô chính diệu ngộ Triệt + Phá Hư, Bệnh Phù, Tang Hỏa, Không Kiếp chiếu.
Cung Tử Tức có Thất Sát tại Ngọ (Thất Sát ngưỡng đẩu nhưng bị Triệt) ngộ Đào Hồng,
Kình Cô Quả. Năm 19 tuổi tiểu hạn vào Thê lấy bà Trần Thị Ngọc Lữ sinh Lê Tư Tề
năm Bính Tuất 1406. Tề thường theo vua Cha đi đánh Trận, khi Bình Định Vương
lên ngôi vua năm Mậu Thân 1428 thì năm sau Kỷ Dậu 1429 Tề được phong làm Quận
Vương nhưng sau đó bị truất ngôi Hoàng Thái Tử (sẽ nối ngôi Cha) năm Quý Sửu
1433 bị vu là phạm tội giết bậy một tỳ thiếp (28 tuổi đi vào hạn năm xung +La Hầu
+ Thiên Không) 5 năm sau lại bị em ruột là Vua Lê Thái Tông (cùng cha khác mẹ)
truất xuống làm thường dân (Thất Sát + Triệt). Bà vợ Cả Ngọc Lữ còn sinh 1 con
gái năm Mậu Tý 1408, năm Mậu Tuất 1418 bị Quân Minh bắt cùng với Mẹ (năm Lê Lợi
phất cờ khởi nghiã: Trận Lam Sơn thứ nhất mai phục tại Lạc Thủy, quân Minh lọt
vào vòng vây, quân ta giết được hơn 3 ngàn. Trận Lam Sơn thứ 2 ngày 21-5 -1418
bị bề tôi tên Ái làm phản dẫn quân Minh đánh úp, bên ta bị tổn thất nặng, Lê Lợi
và tàn quân rút về núi Chí Linh bỏ cả vợ và con gái cho giặc bắt). Sau lấy bà
Phạm thị Ngọc Trần sinh Lê Nguyên Long năm Quý Mão 1423. Truyền thuyết kể rằng
năm Quý Tỵ 1425 trong lúc đang vây thành Nghệ An, Bình Định Vương Lê Lợi nằm ngủ
trong Đền thờ « Thần Cá Quả », mơ thấy vị thần bảo rằng: «Nếu Tướng Quân chịu
dâng một bà vợ lẽ (Phi Tần) thì Ta sẽ giúp Tướng Quân đánh thắng giặc Minh để
gây Nghiệp Đế». Khi tỉnh giấc Vương cho vời các Phi Tần đến hỏi xem ai có chịu
hy sinh không, nếu dám thì sẽ truyền ngôi cho con làm Thiên Tử. Bà Phi Phạm thị
Ngọc Trần tình nguyện hy sinh và xin Vương giữ lời hứa sẽ truyền ngôi cho con
mình là Hoàng Tử Lê Nguyên Long lúc đó được 2 tuổi. Khi Bà Phi Ngọc Trần hy
sinh (mặc áo quần lộng lẫy, bịt mắt lại, ngồi trên một thuyền nan bằng giấy, thả
theo dòng Sông Lam, thuyền chìm dần) thì Hoàng Tử Nguyên Long được giao cho Bà
Phi Chiêu Nghi nuôi dưỡng. Giữ lời hứa nên khi lên ngôi Vua (năm Mậu Thân 1428)
Vua truất ngôi của con Trưởng là Lê Tư Tề mà phong Nguyên Long làm Hoàng Thái Tử
(tháng 8/1433). Một tháng sau Lê Thái Tổ băng hà, Hoàng Thái Tử Nguyên Long lúc
đó mới được 10 tuổi được nối ngôi tức là Vua Lê Thái Tông (sinh năm Quý Mão
1423 chết ở vườn Lệ Chi năm Nhâm Tuất 1442: 19 tuổi hạn Đối Xung + La Hầu +
Kình Đà). Cung Tử Tức của Lê Lợi có Thất Sát triều đẩu ngộ Triệt ứng với việc bỏ
Trưởng lập Thứ ; Đào + Triệt: con gái chết trẻ, nghi án vườn Lệ Chi của Vua Lê
Thái Tông?
Các Đại Vận 10 năm
Đại
Vận 32- 41 tuổi
Vua
thường nói với mọi người rằng: «Làm Trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập
công to , để tiếng tăm muôn đời, chứ sao lại bo bo làm đầy tớ người» hay là:
«Ta dấy quân đánh giặc không phải vì tham phú quý, mà vì muốn cho ngàn đời về
sau biết rằng ta không chịu thần phục quân giặc tàn ngược» đã chứng tỏ Mệnh
Thân đồng cung + Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) hay Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ + bản
chất của Tử Tướng. Với ý chí đó + Hào Trưởng một vùng Lam Sơn (nằm trong cánh đồng
phì nhiêu - lương thực đầy đủ - cạnh núi rừng trùng điệp dãy Trường Sơn - rất
tiện lợi cho những họat động bí mật và chiến tranh du kích nên sau khi đã chiêu
mộ nhân tài gây lực lượng (bà con nội ngoại và bạn bè quanh vùng) nên Lê Lợi đã
mời được 18 vị Tuấn Kiệt lập Hội Thề Lũng Nhai năm Bính Thân 1416 khi Vua
lúc đó 32 tuổi đi vào Đại Vận 32 - 41 ở Cung Tử Tức: Sát Phá Tham + Tam Minh +
Thiên Không + Triệt (ảnh hưởng của Triệt đã yếu), tiểu hạn tại Nô Bộc, lưu Thái
Tuế tại Huynh Đệ (Tử Phủ Vũ Tướng) để chuẩn bị khởi nghiã.
Mồng
2 Tết năm Mậu Tuất 1418 Lê Lợi tự xưng làm Bình Định Vương truyền hịch phất cờ
khởi nghiã ở Lam Sơn.
Trận
đầu tiên với 1000 quân bị quân Minh phản ứng mau lẹ với quân số hùng hậu hơn do
Đô Đốc Chu Quảng ở Tây Đô tiến vào Lam Sơn nên phải rút quân lên núi Chí
Linh để bảo toàn lực lượng. Tháng 5 năm Mậu Tuất 1418 Vương tập hợp quân trở về
Lam Sơn bị Mã Kỳ kéo tới đánh. Quân Minh bị Vương mai phục ở Lạc Thủy bị giết
hơn 3 ngàn. Nhưng chỉ 3 hôm sau bị 1 bề tôi tên Ái làm phản dẫn quân Minh bất
ngờ đánh úp nên quân ta tổn thất nặng và tàn quân chỉ kịp chạy trở lên núi Chí
Linh (đó là trận Lam Sơn thứ 2, Vương mất vợ và con gái). Trở về Lam Sơn lần thứ
3, dù chỉ còn hơn 100 quân, Vương chiêu mộ thêm quân sĩ, chỉnh đốn khí giới, sửa
sang thành lũy bị Tổng binh Lý Bân đem quân từ Đông Quan vào tấn công Lam Sơn
nhưng quân Minh bị Vương mai phục quân ở Mường Mọt đánh tan phải rút về. Tháng
5 năm Kỷ Hợi 1419 (tức là 8 tháng sau trận Mường Mọt) Lý Bân sai Đô Đốc Phương
Chính ở Đồng Quan cùng Đô Chỉ Huy Sư Hựu ở Tây Đô dốc toàn lực tiến vào Lam
Sơn; đó là trận Lam Sơn thứ 3, trận này quân địch rất mạnh nên Vương phải rút về
Chí Linh. Phương Chính xua quân đuổi theo bao vây Chí Linh rất gắt. Lực
lượng Lam Sơn bị hao mòn, lại cạn hết lương thực, hơn 10 ngày chỉ ăn củ nâu và
mật ong, người ngựa đều khốn đốn. Vương bèn hỏi chư tướng: «Ai có thể thay mặc
áo vàng bào của Trẫm, lĩnh 500 quân, 2 thớt voi xông vào Trại giặc; thấy giặc
ra đối địch thì tự xưng tên: Ta là chúa Lam Sơn đây để cho giặc bắt ? Như
vậy ta sẽ ẩn mình, nghỉ binh, thu họp quân sĩ để mưu tính việc về sau.
Các tướng đều lặng thinh, duy chỉ có Lê Lai tình nguyện, thưa rằng: «Tôi
bằng lòng xin thay mặc áo Nhà Vua. Ngày sau Bệ Hạ gây nên Đế Nghiệp, có được
thiên hạ, thương đến công tôi, cho con cháu muôn đời chịu ơn nước. Đó là điều
tôi mong mỏi !
Quả
nhiên khi Lê Lai mặc áo bào cùng 500 quân xông vào trại giặc. Quân giặc xúm lại
vây bắt đem hết về Tây Đô xử tử bằng những hình phạt cực kỳ ác độc. Nhờ Lê Lai
liều mình cứu Chúa, Phương Chính tưởng đã bắt được Lê Lợi nên rút quân, kéo Đại
Binh về Đông Quan. Nhờ vậy Vương cùng chư tướng và chủ lực quân lẻn trốn qua
Đèo qua Núi lên trú ẩn tại Lô Sơn cách Chí Linh chừng 50 km, sau đó đến Mường
Thôi tại thượng lưu sông Mã và ở lại vùng này trong 3 năm 8 tháng. Lê Lai tên
thật là Nguyễn Lai được mang quốc tính họ Lê, được Vua Lê nhớ ơn cho làm giỗ
trước 1 ngày khi Vua mất vì thế mới có câu «21 Lê Lai 22 Lê Lợi».
Đại
Vận 32-41 ở Cung Tử Tức tại Ngọ (hỏa): mất Thiên Thời - thế Kim của Mệnh đi vào
thế Hỏa; về Địa Lợi: Mệnh Kim đóng tại cung Hỏa, về Nhân Hoà: Thất Sát đắc cách
ngộ Triệt nên ta thấy Vương khốn đốn nhiều phen không những gặp giặc Minh còn
có cả giặc Lào. Chỉ từ khi xây dựng lại lực lượng, nhờ quân Minh bận dẹp loạn ở
ngoài Bắc, các hào kiệt kéo tới Lỗi Giang trong đó có Nguyễn Trãi và Trần
Nguyên Hãn (đầu năm Canh Tý 1420). Cuối năm 1420 Nguyễn Chích đem quân bản bộ từ
Đông Sơn (giữa Thanh Hoá và Nông Cống) hợp nhất với Lam Sơn. Lực lượng tuy mạnh,
nhưng nhiều phen cũng phải trá hàng (năm Quý Mão 1423) để dưỡng sức.
Đại
Vận 42-51 tuổi
Đại
vận này đi vào Cung Tài Bạch ở Tỵ được cả 3 yếu tố Thiên Địa Nhân : Vận
Thái Tuế
Quan
Phù Bạch Hổ, Mệnh Kim đi vào Âm Hỏa, Dương Lương Đồng Âm hội Thanh Long Hóa kị
(rồng mây gặp hội), Tam Hoá Liên Châu (áo gấm thêm hoa, uy quyền thực sự - Hóa
Quyền).
Đại
Vận này đã hé mở từ năm Ất Tỵ 1425 (khi Đại Vận 32-41 bị Triệt đi vào tiểu hạn
có Tuần ở Cung Phúc) Vương bao vây thành Nghệ An (từ cuối tháng 1/1425 đến
tháng 2/ 1427). Đại Vận 42-51 khởi từ năm Bính Ngọ 1426, tiểu hạn ở Điền Trạch
tại Tý, lưu Thái Tuế tại Ngọ (Tử Phủ Vũ Tướng hội Khôi Việt, Ân Qúy, Xương
Khúc, Tam Minh Đào Hồng Hỉ, Tứ Đức). Trong lúc bao vây lỏng thành Nghệ An,
tháng 6/1425 Vương sai Đinh Liễn đem 2000 tinh binh + 2 thớt voi vây thành Diễn
Châu, sau đó bao vây Tây Đô. Đầu tháng 9/1426 Vương cho 3 đạo Tiền Phong
tiến ra Bắc. Vương Thông bị mai phục 2 trận ở cánh đồng Tụy Động và Chúc Động,
tàn binh cùng Vương Thông và Mã Kỳ lui về cố thủ Đông Quan (Hà Nội ngày nay).
Vương một mặt bao vây Đông Quan, một mặt tổ chức hành chánh dòng dã 14 tháng (từ
9/11/1425 đến 3/1/1427). Viện binh Minh chia 2 đường sang cứu Đông Quan. Ngày
10-10-1427 (Đinh Mùi) Viện binh do Liễu Thăng chỉ huy bị quân ta mai phục chém
tại ải Chi Lăng, ngày 21-10-1427 quân ta đại phá 5 vạn viện binh do Mộc Thạnh
chỉ huy ở Lê Hoa. Vương Thông xin hòa và rút về Tàu. Vương cấp phương tiện ngựa
thuyền cho 86640 tù binh (trong đó có 280 viên tướng, 137 viên quan). Vương vào
thành Đông Quan ngày 3- 1-1428 tức là ngày 17 tháng chạp năm Mậu Thân, chấm dứt
10 năm gian khổ kháng Minh.
Vua
Lê Lợi tuổi Ất Sửu 1365, lên ngôi ngày 14 tháng 4 năm Mậu Thân (27-4-1428) năm
44 tuổi ta (Đại Vận Thái Tuế, tiểu vận: Tử Phủ Vũ Tướng hội Trung tinh đắc
cách) miếu hiệu Lê Thái Tổ, băng hà ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quý Sửu 1433 (thọ
49 tuổi: hạn năm tuổi + Thái Bạch + Hỏa, Tang, Không Kiếp).

Nhận xét
Đăng nhận xét